Vọng

PGS.TS. Nguyễn Đức Đạt

“Vọng” là tên một bài thơ của anh Hoàng Thế Tuấn, sinh viên cũ thuộc Khoa Toán – Cơ – Tin học. Trong những ngày chuẩn bị kỷ niệm 55 năm thành lập Khoa, tiếng “Vọng” này đã thôi thúc tôi tìm lại những bài thơ sưu tầm. Những bài thơ gợi nhớ một quá khứ đáng tự hào của khoa và về những năm tôi hoạt động trong công tác sinh viên.
*
Trong công cuộc chống Mỹ cứu nước, Khoa Toán – Cơ – Tin học lúc ấy là khoa Toán đã cùng trường Đại học Tổng hợp sơ tán đi nhiều nơi. Tôi về khoa nhận công tác năm 1973 khi trận Điện Biên Phủ trên không đã qua và trường ta đã về Hà Nội. Khoa Toán sơ tán hai đợt, bốn địa điểm. Nếu Đông Anh là nơi trung chuyển từ Đại Từ về Hà Nội thì Thanh Oai lại là nơi sơ tán tạm thời để sau đó chuyển lên Hiệp Hòa. Sau này thường được nghe các thầy cô kể về thời kỳ sơ tán với rất nhiều sự kiện, tôi ấn tượng và rất muốn tìm hiểu. Thì đây, chùm thơ sưu tầm mà người cung cấp cứ nhất định giấu tên các tác giả, đã giải đáp phần nào.
Trong chùm thơ này ta sẽ thấy được cả thời gian và không gian của hai thời kỳ đáng nhớ ấy với những tháng năm không thể nào quên như 1966, 1969, 4/1972, 9/1972 và những địa danh đã trở nên quen thuộc như Đầm Mây, Ba Trang, Kẽm Phương, Đông Hội, Sông Nhuệ, Hà Bắc, Hà Thành,...
Bài thứ nhất, tác giả chắc là mới nhập trường nên “những ngày đầu” ở Đại Từ lại vào năm 1966. Bài thứ hai, một tác giả khác cùng khoa chia tay nơi sơ tán vào năm 1969. Bài đầu là lao động, xây dựng khu sơ tán, gian nan nhưng không kém phần vui say và luôn “ấm tình đồng chí”. Bài sau là nỗi buồn xa cách, sự lưu luyến cho thấy trước đó quả thật là những ngày gắn bó thiết tha.
Bài “Chiều Lại Đà” nói về quãng thời gian ở Đông Anh. Vần thơ lục bát mượt mà cho ta thấy trời nước bao la với những dòng sông, cánh đồng của miền quê gần Hà Nội. Câu cuối cùng thật là ý nghĩa. “Trời Hà Nội” chính là bầu trời thủ đô trong ngày có chiến sự. Lúc ấy khoa chưa đi hết, một bộ phần còn ở lại làm công tác hậu cần. Thầy Ngô Thành Phong và nhóm những người làm thực tế chưa hoàn tất công việc. Địch ném bom ở ngay sát nách làm “màu đen bao phủ khắp trời”, “trời xanh qua mái nhà hỏng”, “nắng qua lỗ thủng của đạn bom”, là những biểu tượng nâng cánh cho bài thơ.
“Chiều bên bờ sông Nhuệ” là cảnh bên bờ con sông đẹp, điểm “quá cảnh” lên Hiệp Hòa. Khác với cảnh núi rừng Bắc Thái, ở đây trời nước xanh trong, lúa xanh đồng, tre xanh dòng sông mà “bom thì đâu xóa được”! Rồi tác giả theo cái logic của văn hào Nga, I-li-a E-ren-bua, lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu làng quê trở nên lòng yêu Tổ Quốc.
Cũng là nơi sơ tán nhưng lại dưới màu sắc của “Đêm Trung thu Hà Bắc”. Cái đẹp của trăng thu càng thêm man mác khi không có rước đèn, múa lân. Trung thu mà không được tận hưởng, ấy là “vì giặc Mỹ”.
Trong sáu bài thơ, cái đẹp cái nên thơ luôn đi sát với cái gian khổ thời chiến nhưng nổi lên trên hết vẫn là con người và tình người. Đọc thơ, ta sẽ cảm nhận được cái tâm của những người sáng tác ra chúng.

Ngày đầu với Đầm Mây, Ba Trang (*)
Đường rừng bó nứa vác vai
Vui nghe dòng suối ca hoài bên chân
Cười tung suối cuộn trắng ngần
Lán em mới dựng mà thân như nhà
Tre nứa xanh xanh
Dòng suối uốn quanh
Mái lán nhỏ xinh
Ấm tình đồng chí
Vui bên nhau: sắn, rau, bầu bí
Yêu quý nhau như thể một nhà
Khi dốc cao, mưa nắng đường xa
Ghé đỡ vai nhau, chân tình, giản dị
Càng gian nan càng ấm tình đồng chí
Càng xa quê càng thắm nghĩa quê hương.
1966

Chia tay “Kẽm Phượng”

Sắp xa rồi hỡi rừng núi thân yêu
Biết chăng nhỉ, ta nhớ nhiều, nhiều lắm
Nhớ hôm nào trong một chiều thu nắng
Lần đầu tiên ta đặt bước lên đây
Kẽm Phương thân yêu nơi ta sống hôm nay
Sao lúc ấy nó âm thầm lạnh lẽo
Trời cuối thu bầu trời xanh trong trẻo
Nhưng ta vẫn thấy buồn vì một nỗi xa quê
Đứng ngẩn nhìn quanh chỉ thấy núi bốn bề
Mây lặng lẽ trôi về nơi xa tắp...

Rồi mấy tháng qua đi mọi vật đều đổi khác
Hay bởi lòng ta, ta đã thấy thân quen
Mỗi bình minh, khúc nhạc dạo êm đềm
Suối róc rách, đất thì thầm khe khẽ
Chim hót líu lo, mây vờn gió nhẹ
Rừng cây reo, ngàn hoa hé nụ cười
Áo vải, chân trần lòng vẫn ngập niềm vui

Những buổi tập hành quân, canh gác trên đồi
Những đêm bên suối sáng ngời ánh trăng
Những chiều sim nở tím rừng
Những đêm lửa lán tưng bừng lời ca

Thế mà hôm nay ta sắp phải xa
Xa, xa mãi biết khi nào trở lại
Mười chín tháng trôi qua là thế đấy
Kẽm Phương ơi, người sống mãi trong ta.
1969

Chiều Lại Đà

Chiều nay thong thả dạo chơi
Ngắm nhìn cảnh đẹp nước, trời bao la
Sông Hồng đỏ nặng phù sa
Vỗ về ôm ấp Lại Đà, Trung Thôn...
Xa kia thành cổ vẫn còn
An Dương Vương đó nước non nặng tình
**
Tạm biệt Đầm Mây ta về Đông Hội
Lớp lại dựng lên ven mỗi cánh đồng
Bên này ruộng lúa, bên kia dòng sông
Say sưa thầy vẫn giảng trong gió chiều
Mắt trò chăm chú dõi theo
... Trong đơn sơ chứa bao điều lớn lao.
Lại Đà 1969

Trời Hà Nội
Tôi ngồi đây ngắm bầu trời qua khung cửa sổ
Kia hàng phi lao gặp gió cúi đầu chào
Có đôi bồ câu trắng giữa trời cao
Nắng tinh nghịch nhảy vào qua kẽ lá
Trời Hà Nội hôm nay sao đẹp lạ

Bỗng u...u... còi rúc liên hồi
Rồi bom đạn gầm, đất đá rơi
Khung cửa mái nhà tan tác hết
Một màu đen bao phủ khắp trời
Nhưng gây đau thương ta bắt bay đền tội
Trong bom rơi Hà Nội vẫn anh hùng
Pháo vẫn nổ ròn, “én bạc” vẫn xung phong
Bốn “thần Sấm” đã hóa thành sắt vụn

Giờ đây trời lại xanh qua mái nhà đá hỏng
Ống khói hiên ngang vẫn ngẩng đầu chào
Những cánh sao vàng bay giữa trời cao
Nắng lại nhảy chui vào qua lỗ thủng
Trời Hà Nội vẫn hiên ngang hùng dũng.
1972

Chiều bên bờ sông Nhuệ

Trời xanh trong
Nước xanh trong
Phía xa kia lúa tốt xanh đồng
Hàng tre xanh đón gió dọc bờ sông
Dù giặc Mỹ muốn reo đau thương thảm họa
Nhưng bom đạn thù đâu xóa được màu xanh
Chiều nay ngồi bên bờ sông Nhuệ
Ngắm Tổ Quốc mình không thể không yêu
Dòng sông tắm ánh nắng chiều
Một con thuyền nhỏ khua chèo sang sông
Cô em gái má ửng hồng
Bóng em gánh cỏ in lồng bóng mây.
4/1972
Đêm Trung thu Hà Bắc

Trăng vàng bát ngát rải đầy sân
Hằng Nga ơi chị đẹp tuyệt trần
Sáng trong không chút mờ mây đục
Giữa trời xanh biếc lấp sông ngân
Đêm nay trăng đẹp lắm em ơi
Soi sáng mênh mông cả bầu trời
Song vì giặc Mỹ em không thể
Rước đèn, phá cỗ, múa lân vui
Xa mẹ con đi chín tháng rồi
Dấu chân dừng lại đã ba nơi
Hà Nội, Hà Tây nay Hà Bắc
Lòng dân đâu cũng ấm mẹ ơi
Chiều nay lên lớp ngang đồng lúa
Hương lúa mơn man nỗi nhớ nhà
Nhớ cốm Hà Thành mùa thu ấy
Nhớ dòng sông Mã buổi chia xa
9/1972

Vọng về thời gian gần đây, mới 2005 – 2006 mà cảm giác như đã xa lắm rồi. Nước chảy đá mòn là tính cho thế kỷ, và thời gian phủ bụi thì chỉ kể tháng năm! Những bài thơ sinh viên sưu tầm ngày ấy quả thực đã để lại cho tôi nhiều hoài cảm.
*
Và cuối cùng, tôi xin trích giới thiệu bài “Vọng” từ chùm thơ của Hoàng Thế Tuấn, lớp trưởng K49A1T. Chùm thơ anh Tuấn là chùm thơ lãng mạn mà cái tôi muốn nói ở đây là lãng mạn của người học toán. Vọng về một người bạn trong ước mơ đã “vụt lướt qua nhau”, một tình cảm “chưa dâng lên thành câu” để trong người đọc vẫn còn “những hoài niệm bâng khuâng”!
Vọng!
Một dòng sông và con thuyền lơ đãng
Một cuộc đời những hoài niệm bâng khuâng
Nhận ra em con thuyền như cập bến
Sóng dạt dào về bến của yêu thương

Mùa hạ ơi đừng trôi đi nhanh quá
Và mưa ơi đừng dập tắt nắng vàng
Để mùa thi hãy còn xa xôi lắm
Ta vô tư, em cũng chẳng vội vàng

Nhưng mùa hạ nào có biết đợi ai
Tháng ngày trôi nhạt dần màu hoa phượng
Ta vẫn chẳng vô tư, em lại càng vội vã
Rồi chiều nào ta vụt lướt qua nhau

Hạnh phúc đầu đời chưa dâng lên thành câu
Đã vội tan như sương mai ngày hạ
Cho xót xa nơi người nay xứ lạ
Ánh nắng tà mang bao nỗi chia xa.