THẦY – GIÁO SƯ LÊ VĂN THIÊM (29/03/1918 – 03/07/1991)

~ Những dấu ấn trong ký ức của tôi ~GS.TS. Phan Văn Hạp
Bài viết nhân dịp 98 năm ngày sinh của thầy, năm kỉ niệm lần thứ 60 trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội được thành lập và 25 năm thầy đi xa.

Giáo sư Lê Văn Thiêm, thầy của hầu hết những người làm Toán (trên 50 tuổi) của Việt Nam mà tôi được biết. Cùng với việc trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu Toán học, thầy còn là người lãnh đạo, quản lý, đóng góp mang tính sáng lập các trường Đại học về Khoa học Cơ bản, Viện Toán cũng như có vai trò quyết định trong quan hệ với nhiều nước trong lĩnh vực Toán học, Vật lý đặc biệt là Vật lý hạt nhân trong thời kỳ đầu (nhiều năm Thầy là đại diện toàn quyền của Việt Nam tại Viện Liên hợp Hạt nhân Dubna). Với tôi, những kí ức về thầy luôn sâu đậm và có những nét riêng không lẫn trong cuộc đời học, giảng dạy và làm Toán hơn sáu mươi năm qua.
Tôi được biết tiếng về Giáo sư Lê Văn Thiêm từ năm bắt đầu vào học cấp hai. Năm 1950 – 1951 sau kỳ thi tốt nghiệp Tiểu học khóa cuối cùng theo kiểu cũ, tôi dự thi vào lớp 5 (cấp 2) theo chương trình mới của hệ phổ thông 9 năm tại Đức Thọ - Hà Tĩnh. Tiếp đó, nhiều lần đi học dọc theo đê sông La, qua nhà thuốc Lê Văn Kỷ ở thị trấn Đức Thọ, được biết ông là anh ruột của “Lưỡng quốc Tiến sĩ Lê Văn Thiêm” như quê tôi thường gọi – tôi rất ngưỡng mộ và tự hào vì quê mình có nhiều người tài giỏi!
*
* *
Năm 1965, rời trường THPT Phan Đình Phùng, được vào học khóa 1 trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (sau 3 tháng được học tại Trường Bổ túc VHCNTW), lại nghe sẽ được trực tiếp nghe thầy Lê Văn Thiêm giảng, tôi càng háo hức chờ đợi. Nhiều bạn học xì xào nhau việc một số thầy giáo trẻ trước đây học cử nhân Toán trong Hà Nội vì nghe tiếng Giáo sư Lê Văn Thiêm nên quyết định ở lại không đi cùng gia đình vào Nam hay sang Pháp.
Về nước theo lời mời trực tiếp của Bác Hồ từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954), Giáo sư Lê Văn Thiêm từng giữ chức Giám đốc Sở Giáo dục Nam Bộ, sau đó từ năm 1950 ra Việt Bắc thành lập trường Khoa học Tự nhiên và Khoa học Kỹ thuật, về sau đổi thành trường Khoa học Cơ bản. Thầy là Hiệu trưởng của Trường Khoa học Cơ bản và Trường Sư phạm cao cấp tại khu học xá Nam Ninh từ 1950 đến 1954.
Về Hà Nội năm 1954 sau giải phóng Thủ đô (10/10/1954), Thầy là Giám đốc trường Đại học Sư phạm Khoa học trong các năm 1954 – 1956. Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập cùng bốn trường Đại học lớn khác vào năm 1956, Thầy là Hiệu phó phụ trách chuyên môn kiêm Chủ nhiệm Khoa Tự nhiên (gồm các ngành Toán, Vật lý, Hóa học, Vạn vật - tức Sinh vật học). Thời gian đầu thầy còn phụ trách tổ chức Đảng cho đến lúc ông Nguyễn Thượng Nam, từ quân đội chuyển về, làm Bí thư chuyên trách.
Giáo sư Lê Văn Thiêm trực tiếp giảng cho chúng tôi môn “Hàm số biến số phức” (gọi tắt là Hàm phức). Bảng đen ở giảng đường được ghép hai cái làm một nên bục giảng bị ngắn hơn. Hôm đầu giảng vì say sưa nên thầy bước hụt suýt ngã, tôi hú vía vì ngồi ngay bàn đầu, may không việc gì! Tôi rất thích phần “Biến hình bảo giác” khi làm bài tập được thầy khen là có cách giải độc đáo (lúc đó cứ tưởng như mình đang làm xiếc biến hình !).
Sau khi học năm 2, thực hiện chủ trường rèn luyện trí thức qua lao động chân tay, chúng tôi cùng các thầy đi “ba cùng”: cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với bà con nông dân ở Bình Đà, Thanh Oai, Hà Đông. Cả ban giám hiệu cùng các chủ nhiệm khoa, các thầy, cô giáo cùng sinh viên đi chăn trâu, gặt lúa, làm các việc đồng áng cùng với bà con nông dân. Hàng ngày, sau 15h lại họp để rút các bài học từ việc lao động, quan hệ với dân... Hình ảnh của Giáo sư Hiệu trưởng Ngụy Như Kon Tum, của các Giáo sư Lê Văn Thiêm, Nguyễn Hoán, Hoàng Xuân Nhị đi chăn trâu gặt lúa gánh rạ... vẫn khắc in sâu mãi trong tâm trí tôi.
Tốt nghiệp đại học sau 3 năm học, trước khi đi công tác hoặc học chuyển tiếp ở Liên Xô, chúng tôi đi học chính trị một thời gian để tự thấy trách nhiệm mới. Các thầy dặn dò chúng tôi những điều cần thiết, tôi còn nhớ thấy - Giáo sư Lê Văn Thiêm nói việc học và dạy học trong 3 năm qua chỉ là bước khởi đầu chuẩn bị cho sinh viên một số kiến thức để sau này tự học trong quá trình làm việc. Những ngày đầu ngoài một số ít các Giáo sư và các thầy lớn tuổi, chúng tôi được gọi các thầy trẻ bằng anh, xưng tôi hoặc em. Thầy Thiêm nói đùa một cách hình ảnh là: "Ta đang học và dạy học theo kiểu "Cơm chấm cơm" !".
Trong những năm một số chúng tôi được chuyển tiếp tại trường Đại học Tổng hợp Lomonosov rồi làm nghiên cứu sinh, mỗi lần có dịp đi công tác, thầy luôn tranh thủ tới thăm và động viên.
Năm 1961, trong dịp đi Dubna, ghé thăm trường Đại học Tổng hợp Lomonosov, nhân Viện sĩ S.L. Sobolev, nguyên chủ nhiệm Bộ môn Toán học Tính toán, Khoa Toán - Cơ của trường, nay chuyển sang làm Phân viện trưởng Phân viện Viện Hàn lâm Khoa học của Liên Xô tại Novosibirsk, có mặt tại trường, tôi dẫn thầy đi thăm lại bạn cũ. Hai thầy trao đổi về dự báo khí tượng và khả năng cải thiện máy tính điện tử thế hệ BESTM của Nga lúc đó. Cuộc trao đổi khá thú vị và tôi được hiểu thêm về khả năng cũng như hạn chế của các thuật toán và công cụ tính toán trong công tác dự báo. Lúc này, đang có cuộc thảo luận về Người Máy - Máy Người do viện sĩ A.N. Kolmogorov chủ trì tôi có dự theo dõi nên phần nào hiểu và quan tâm. Cũng qua buổi hợp này về sau trong sinh hoạt bộ môn do viện sĩ A.N. Tikhonov, chủ nhiệm Bộ môn Toán học Tính toán thay viện sĩ S.L. Sobolev, tôi mới có dịp làm quen các giáo sư khác.
Năm 1962 thầy cũng có dịp đi công tác và ghé qua dự lễ kết nạp tôi vào Đảng Lao động Việt Nam.

*
* *
Sau khi bảo vệ luận án Tiến sĩ (trước đây là Phó Tiến sĩ) tháng 6/1965 tôi trở về Khoa công tác, thầy vẫn là Hiệu phó phụ trách chuyên môn, ủy viên Thường vụ Đảng ủy Nhà trường. Lúc này ông Bí thư Đảng ủy đang chữa bệnh tại Trung Quốc, ông Trưởng phòng Tổ chức làm Quyền bí thư, chiến tranh phá hoại đã lan ra miền Bắc, đường xe lửa chỉ hoạt động từ Ninh Bình trở ra. Tôi về thăm nhà trên chiếc xe đạp Sputnik của Nga sau 3 ngày, 3 đêm đạp xe liên tục. Người yêu (sau này là vợ tôi) tốt nghiệp Đại học Sư phạm Vinh đang chuẩn bị đi B công tác nên hai gia đình quyết định tổ chức lễ thành hôn. Tin báo ra trường, thầy chuẩn bị về dự đám cưới của chúng tôi và thăm quê. Tuy nhiên, sau đó trường được lệnh gấp rút sơ tán nên thầy không thể về chia vui cùng chúng tôi được!
Năm học 1965 – 1966, tôi được phân công dạy Giải tích 2 và làm chủ nhiệm lớp toán khóa 9 (1964 - 1968), dạy Phương pháp tính cho khóa 8 (1963 - 1967). Những năm đó và cả về sau, mỗi khóa học đều có môn thi Toán cơ sở - thông thường gồm phần những quan trọng của Giải tích và Đại số - nhằm chuẩn bị tốt cho việc làm luận văn năm thứ 4 hoặc nếu ra công tác sau khi học 3 năm thì có một cơ sở toán đủ vững để tự học tiếp theo cũng như để công tác. Thầy nói đùa trước khi vào thi: “Anh Hạp tuy trông hiền lành và còn trẻ nhưng hỏi thi “hắc” lắm đấy !” (thầy cười). Tôi hướng dẫn tốt nghiệp cho 4 anh chị, khóa 8 cả 4 người đều có tên bắt đầu bằng chữ H, cùng với tôi lập thành 5H, một hôm gặp thầy ở Hiệu Bộ, tôi bất ngờ khi thầy hỏi: “Nhóm 5H có gì mới ?”.
Trong bốn năm sơ tán ở Đại Từ, có 2 lần thầy cho tôi đi nhờ xe từ Hà Nội lên. Một lần, khi ăn cơm trưa, thầy lấy cơm nắm và hộp ghi rõ đựng thức ăn là thịt cắt quân cờ rang muối. Thầy bảo: tiêu chuẩn được mỗi bữa một miếng thịt rang hình hộp bằng đốt ngón tay!
Năm 1970, trường chuyển về Hà Nội, khoa Toán ở Tiên Hội, Đông Anh, Đoàn các Giáo sư, Viện sĩ Toán từ Đại học Novosibirsk và Phân viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô thăm làm việc với Đại học Tổng hợp Hà Nội. Thầy Lê Văn Thiêm chủ trì việc đón tiếp. Thầy bảo tôi giảng bài để Đoàn dự giờ. Tôi giảng phần “hội tụ đều” của chuỗi cho lớp Toán - Cơ khóa 13 trong lớp học tranh, tre dựng tại khu sơ tán Đông Anh. Sau buổi dự giờ, thầy cho biết các thành viên của Đoàn đánh giá tốt buổi giảng, kể cả các câu hỏi của sinh viên được ra cùng việc ghi chép bài giảng của hai sinh viên mà họ đã xem.
Cùng dịp đó, tôi được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm khoa. Thầy cùng Giáo sư Hiệu trưởng gặp để căn dặn một số điều khi tôi nhận việc.
Một thời gian không lâu sau đó, Thầy chuyển về Ủy ban Khoa học Nhà nước làm Viện trưởng Viện Toán học (trước đây thầy đã kiêm nhiệm Trưởng ban Toán - Lý của Ủy ban).
Năm 1974, theo đề xuất và quyết định của thầy - chủ tịch hội Toán học - tôi được chọn để tham gia đoàn 4 người đi dự Đại hội Toán học thế giới tại Vancouver, Canada. Ngoài thầy là đại biểu đương nhiên còn có chị Hoàng Xuân Sính, anh Phạm Hữu Sách và tôi. Sau những ngày chuẩn bị làm hộ chiếu, vì lý do tài chính nên anh Phạm Hữu Sách và tôi đành phải ở lại.
Từ đó về sau tôi ít được gặp thầy. Sau năm 1986, thầy về Thành phố Hồ Chí Minh cùng gia đình, và tham gia vào việc xây dựng Trung tâm Toán ứng dụng. Năm 1989, khi tôi tham dự Xemina tại Viện Cơ - Moskva, một số Giáo sư bạn cũ của thầy biết nên đã gặp tôi hỏi về thầy.
Năm 1991, tháng 07 ngày 03, Thầy đã ra đi ở tuổi 73! Được tin thầy mất, tôi nghe bạn báo lại lãnh đạo trường định cử Đoàn vào viếng (tôi được dự kiến đi cùng), sau đó vì đang có cán bộ của trường đang công tác trong đó nên không cử thêm cán bộ từ Hà Nội vào nữa. Cũng năm 1991, Giáo sư Ngụy Như Kon Tum - Hiệu trưởng đầu tiên và lâu nhất của trường cũng đã ra đi vào tháng 3.
Hai Giáo sư có công đầu của Đại học Tổng hợp Hà Nội và cũng là những Giáo sư đáng kính bậc nhất của nền Giáo dục Việt Nam ra đi đúng lúc trường tròn 35 tuổi. Tên của hai thầy được đặt cho hai con phố gần trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn hiện nay cũng như cho hai giảng đường đẹp nhất của 19 Lê Thánh Tông. Một số trường học ở Hà Nội và quê hương Hà Tĩnh cũng vinh dự được mang tên thầy. Lớp lớp học trò của thầy mãi mãi ghi nhớ công ơn thầy.